Đọc báo cùng Tomoni kỳ 39: Tình hình Naitei sau 1 tháng mùa tuyển dụng 2019 bắt đầu

Trong đọc báo cùng Tomoni kỳ này chung ta cùng tìm hiểu về tình hình nhận được Naitei sau một tháng mùa tuyển dụng 2019 bắt đầu nhé.

Nguồn sử dụng cho bài hôm nay được đăng trong phần 就活ニュース được đăng trên NHK News. Link bài báo gốc

Mục lục

  1. Nội dung bài báo
  2. Giải thích nội dung – từ mới
Nội dung bài báo

就活本格化1か月 気になる内定状況は

就職活動が本格化してから1か月あまり。ことしは、例年より、内定を出すタイミングが早い傾向にあるようです。

就活生としては、周りの友達に「内定」持ちが増えていくと、焦る気持ちがあると思います。

ただ、調査の担当者は「ミスマッチが起きないためにも、焦らずに就職活動を進めてほしい」と分析しています。

~5年ぶり!4月の内定率2割超え~

●就職情報会社「ディスコ」
4月1日~4日に行ったインターネット調査の結果を速報。
調査は2020年3月に卒業する大学生・大学院生1250人から回答を得ました。

「4月1日時点で内定を得ている学生は 全体の26.4%」

3月1日時点(13.9%)から12.5ポイント増え、前の年の同じ時期を7.6ポイント上回りました。
4月の内定率が2割を超えるのは、2014年以来5年ぶりです。
「当時は選考解禁が今より2か月早い4月1日でした。それを考えると、ことしはいかに早いペースで内定が出ているかがわかります」(ディスコ)

●就活情報サイト「マイナビ」
3月末時点の内定率を発表。調査は3月25日~29日、2020年3月に卒業する大学生・大学院生7030人から回答を得ました。

「3月末時点で内々定を得ている学生は、全体の12.7%」

前の年の同じ時期を3.2ポイント上回り、こちらも5年ぶりの1割超えとなりました。

~就職活動はまだまだ序盤~

内定率は5年ぶりに高い数値となりました。

調査を行った担当者は「売り手市場」が背景にあると分析しています。

ただ、内定を得た学生の7割から8割が、いずれの調査でも、「就職活動を続ける」と回答しています。全体的にみると、就活活動はまだまだ序盤といった状況です。

~売り手市場の“わな”に注意~

「ディスコ」の調査によりますと、来年3月卒業の就活生の半数を超える53.8%が、大手企業を志向しています。

調査担当者は「学生が、売り手市場を過信して、就職活動を大手企業に絞りすぎている状況になっていないか懸念しています。大手金融は採用予定数を減らすというニュースが聞かれるなど、大手企業の採用が依然として狭き門であることに変わりはないです」と見ています。

売り手市場=“選べる環境”と捉え、企業規模にとらわれずに、企業と自分の“相性”をしっかりと見つめることも大切ではないか」と話しています。

~焦らず就活も大事~

ことしのGWは最長で10連休。

優秀な人材をいち早く獲得したい企業としては、大型連休前のタイミングで、早々に内定を出すことで、連休をはさむ間に、
学生が就活を終える決断をするのではないかと期待を寄せているという本音もあるようです。

このため、ことしの就活は、さらに前倒しの圧力が強いとみられていますが、調査担当者は、「企業によっては第2クール、第3クールと採用日程を構えているところもある。いわゆるミスマッチが起きないためにも、焦らずに就職活動を進めてほしい」と話しています。

Giải thích nội dung – từ mới

Tạm dịch:

Tình hình nhận được Naitei – 1 tháng  sau khi mùa tuyển dụng 2019 bắt đầu

Mùa tuyển dụng năm nay đã chính thức bắt đầu được hơn 1 tháng. Năm nay tình hình nhận được Naitei có xu hướng sớm hơn so với mọi năm.

Với các bạn đang đi xin việc, chắc hẳn các bạn sẽ ít nhiều lo lắng khi ngày càng thấy nhiều bạn bè xung quanh thông báo đã nhận được Naitei.

Tuy nhiên, theo người phụ trách cuộc khảo sát lần này phân tích, thì  “Để tránh xảy ra việc lựa chọn những công ty không phù hợp với bản thân, rất mong các bạn sẽ không vội vã trong quá trình xin việc. ”

~Lần đầu tiên trong 5 năm trở lại đây, tỷ lệ nhận được Naitei vào tháng 4 vượt mức 20% ~

  Công ty chuyên cung cấp thông tin tình hình xin việc Disco vừa công bố kết quả cuộc khảo sát được tiến hành từ ngày 1 đến ngày 4/4 vừa qua qua mạng internet. Cuộc khảo sát lấy ý kiến từ 1250 sinh viên đại học – cao học sẽ tốt nghiệp vào tháng 3/2020.

Tỷ lệ nhận được Naitei cho đến ngày 1/4 chiếm 26.4% tổng số sinh viên tham gia khảo sát. 

Kết quả này tăng 12,5% so với thời điểm 1/3 (13,9%) và tăng hơn 7,6% so với thời điểm này của năm ngoái.

Đây là năm đầu tiên kể từ năm 2014, tỷ lệ nhận được Naitei vào tháng 4 đạt hơn 20%.

Tuy nhiên, vào thời điểm năm 2014, thời điểm các công ty được phép phỏng vấn là 1/4, sớm hơn hiện giờ 2 tháng. Vì thế,  nếu xem xét cả điểm này, chúng ta có thể thấy năm nay tốc độ ra quyết định Naitei sớm hơn rất nhiều.

Trang thông tin tuyển dụng My Navi cũng công bố tình hình nhận được Naitei cho đến thời điểm cuối tháng 3. Cuộc khảo sát của My Navi được tiến hành từ 25 đến 29/3 và nhận được câu trả lời của 7030 sinh viên đại học – cao học sẽ tốt nghiệp vào tháng 3/2020.

Cho đến cuối tháng 3, số lượng sinh viên nhận được Nainaitei chiếm 12,7% tổng số sinh viên tham gia khảo sát. 

Con số này tăng 3,2% so với thời điểm này của năm ngoái, và số lượng sinh viên nhận được Nainaitei vượt trên 10% sau 5 năm.

~Mùa xin việc năm nay mới chỉ bắt đầu~

Đây là lần đầu tiên trong 5 năm trở lại đây tỷ lệ nhận được Naitei mới đạt con số cao như vậy.

Theo người phụ trách các cuộc khảo sát này phân tích,  thì việc này có một phần nguyên nhân do hiện nay trong thị trường việc làm thì sinh viên đang có ưu thế.

Dù tỷ lệ nhận được Naitei cao như vậy, nhưng 70~80% sinh viên đã nhận được Naitei trả lời với cả hai cuộc điều tra là sẽ tiếp tục xin việc. Nếu xem xét tình hình tổng thể như vậy, có thể sẽ thấy mùa xin việc năm nay mới chỉ ở giai đoạn bắt đầu.

~Hãy cẩn thận với cái bẫy của thị trường xin việc được cho là sinh viên có ưu thế~

Theo điều tra của Disco, hơn 53,8% sinh viên sẽ tốt nghiệp vào tháng 3 năm tới có nguyện vọng muốn làm việc tại các doanh nghiệp lớn có tiếng tăm.

Người phụ trách điều tra cho biết “Tôi lo lắng liệu sinh viên có đang quá tin tưởng mình là phía có lợi thế trong thị trường xin việc, và chỉ thu hẹp phạm vi ứng tuyển vào các doanh nghiệp lớn hay không. Tuy vậy, nếu chăm xem tin tức thì cũng có thể thấy các doanh nghiệp tài chính lớn hiện đang có xu hướng giảm số lượng tuyển dụng, và vì vậy cánh cửa để vào các doanh nghiệp lớn vẫn rất hẹp.”

Người phụ trách điều tra cũng cho biết “Để người xin việc là phía có ưu thế = phía có quyền lựa chọn, cần không lựa chọn dựa trên quy mô của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tìm hiểu sự phù hợp giữa bản thân và doanh nghiệp ứng tuyển.”

~Việc không vội vã tiến hành xin việc cũng là việc rất quan trọng~

Kỳ nghỉ tuần lễ vàng Golden Week năm nay sẽ là kỳ nghỉ dài nhất với 10 ngày nghỉ.

Về phía các doanh nghiệp muốn nhanh chóng lấy được nhân lực ưu tú , lý do doanh nghiệp đưa ra quyết định Naitei sớm có vẻ nhắm tới kỳ nghỉ dài sắp tới, với hy vọng sinh viên có thời gian xem xét và đưa ra quyết định nhận Naitei hay không.

Bởi lý do trên mà mùa tuyển dụng năm nay có vẻđang diễn tiến rất nhanh, tuy nhiên người phụ trách điều tra cũng cho biết thêm “Tuỳ từng doanh nghiệp mà cũng có nơi đã đưa ra lịch tuyển dụng lần 2, lịch tuyển dụng lần 3. Bởi vậy rất mong các bạn sẽ không vội vã trong quá trình xin việc, tránh xảy ra việc lựa chọn doanh nghiệp không phù hợp với bản thân.”

Giờ thì chúng ta cùng xem lại một số cụm từ trong bài báo (ミスマッチが起きる、依然として、相性、期待を寄せる)để tìm hiểu thêm về ý nghĩa nhé.

 ミスマッチが起きる

ミスマッチが起きないためにも、焦らずに就職活動を進めてほしい

Tạm dịch:  Để tránh xảy ra việc lựa chọn những công ty không phù hợp, rất mong các bạn sẽ không vội vã trong quá trình xin việc. 

ミスマッチ(mismatch) 人材採用などの場面において使用する場合には、企業側と求職者のニーズにギャップがある事を指します。

Trong lĩnh vực tuyển dụng, từ mismatch(không phù hợp) này dùng để chỉ việc có sự khác biệt giữa nguyện vọng/ nhu cầu giữa bên tuyển dụng và người xin việc. 

Sự khác biệt giữa nguyện vọng/ nhu cầu giữa hai bên tuyển dụng và người xin việc có nhiều hình thức khác nhau.

Ví dụ:

  1. 雇用条件のミスマッチ (Không phù hợp về điều kiện tuyển dụng): Các kỹ năng, độ tuổi, điều kiện mà doanh nghiệp đưa ra không phù hợp với những gì người xin việc mong muốn.
  2. 性格面のミスマッチ(Không phù hợp về mặt tính cách): Tính cách hay động cơ làm việc của người xin việc không phù hợp với môi trường làm việc của doanh nghiệp.

 依然として(いぜんとして)

大手金融は採用予定数を減らすというニュースが聞かれるなど、大手企業の採用が依然として狭き門であることに変わりはないです。

Tạm dịch: Tuy vậy, nếu chăm xem tin tức thì cũng có thể thấy các doanh nghiệp tài chính lớn hiện đang có xu hướng giảm số lượng tuyển dụng, và vì vậy cánh cửa để vào các doanh nghiệp lớn vẫn rất hẹp

依然として(いぜんとして): 相変わらず(あいかわらず)、前と変わらず、元のままで。Không thay đổi so với trước, vẫn giữ nguyên như trước.

あまり良くない状態が続く時に多く使用されるニュアンスです。Hay được dùng khi chỉ tình trạng không tốt vẫn tiếp tục diễn ra.

Ví dụ:

  1. 依然として激しい雨が降り続いています。Mưa lớn vẫn tiếp diễn, chưa có dấu hiệu tạnh.
  2. 依然として景気回復の見込みが立ちません。Tình hình kinh tế vẫn không có chiều hướng cải thiện.

③ 相性(あいしょう)

売り手市場=“選べる環境”と捉え、企業規模にとらわれずに、企業と自分の“相性”をしっかりと見つめることも大切ではないか

Tạm dịch: Để người xin việc là phía có ưu thế = phía có quyền lựa chọn, cần không lựa chọn dựa trên quy mô của doanh nghiệp, mà quan trọng hơn là tìm hiểu sự phù hợp giữa bản thân và doanh nghiệp ứng tuyển

相性(あいしょう)互いに性格がよく合うかどうかViệc cả hai phía có phù hợp với nhau không.

Ví dụ:

  1. 私たちは相性がいい。Chúng tôi rất hợp nhau
  2. あなたと彼女は相性が悪かったのですね。Bạn và cô ấy vốn không hợp nhau nhỉ

④ 期待を寄せる(きたいをよせる)

優秀な人材をいち早く獲得したい企業としては、大型連休前のタイミングで、早々に内定を出すことで、連休をはさむ間に、学生が就活を終える決断をするのではないかと期待を寄せているという本音もあるようです

Tạm dịch: Về phía các doanh nghiệp muốn nhanh chóng tuyểnđược nhân lực ưu tú , lý do doanh nghiệp đưa ra quyết định Naitei sớm có vẻ nhắm tới kỳ nghỉ dài sắp tới, với hy vọng sinh viên có thời gian xem xét và đưa ra quyết định nhận Naitei hay không.

期待を寄せる(きたいをよせる): よい結果や状態を予期して、その実現を待ち望む気持ちをいだく Dự đoán về kết quả tốt hay triển vọng tốt sẽ đến, và có tâm trạng mong chờ điều đó sẽ thành hiện thực.

Ví dụ:

彼女に期待を寄せる。Chúng tôi kỳ vọng vào cô ấy.

Thông tin bổ sung 

Vậy là qua bài news vừa rồi, chúng ta có thể hiểu thêm về những diễn tiến mới trong mùa xin việc năm nay. Việc các bạn xung quanh sớm có naitei đúng là có ảnh hưởng ít nhiều đến tâm lý và dễ khiến chúng ta vội vàng, nhưng như bài báo đã nói, quan trọng nhất vẫn là phải tìm được công ty-công việc phù hợp nhất với mình. Thời gian vẫn còn nhiều nên các bạn hãy bình tĩnh và đi tìm hiểu đủ nhiều để không xảy ra mismatch nhé. 

Xin vui lòng liên hệ trước khi đăng lại hoặc trích dẫn nội dung và hình ảnh từ Tomoni.

Bình luận

Loading...