Từ tháng 4 năm 2026, Nhật Bản bổ sung quy định về việc chứng minh năng lực tiếng Nhật đối với một số trường hợp xin visa Kỹ sư/Nhân văn tri thức/Nghiệp vụ quốc tế (技術・人文知識・国際業務).

Nguồn từ Cục QLXNC: https://www.moj.go.jp/isa/applications/status/gijinkoku.html
Ngoài JLPT N2 trở lên, người lao động còn có thể sử dụng các chứng chỉ:
BJT: từ 400 điểm
J.TEST: khoảng 550–600 điểm
NAT-TEST: cấp 2 trở lên
Các chứng chỉ có trình độ tương đương CEFR B2 cũng được chấp nhận.
Tốt nghiệp trường học tại Nhật sẽ được miễn chứng minh năng lực tiếng Nhật khi:
- Tốt nghiệp đại học hoặc cao học tại Nhật.
- Tốt nghiệp trường chuyên môn tại Nhật và được cấp danh hiệu 専門士.
- Đã cư trú tại Nhật từ 20 năm trở lên.
- Hoàn thành giáo dục bắt buộc và tốt nghiệp THPT tại Nhật.
Các trường hợp khác khi xin cấp đổi/gia hạn visa kỹ sư: không phải đều bắt buộc có tiếng Nhật tương đương JLPT N2.
Để xác định có phải nộp chứng chỉ tiếng Nhật hay không, cần xem xét đồng thời 3 yếu tố:
- Doanh nghiệp có thuộc nhóm 3 hoặc 4 hay không.
- Công việc có thuộc nhóm “đối nhân nghiệp vụ” (対人業務) hay không.
- Loại hồ sơ là xin mới, đổi visa, chuyển việc hay chỉ gia hạn.
1. Doanh nghiệp nào áp dụng?
Quy định này chỉ áp dụng đối với doanh nghiệp thuộc nhóm 3 và 4. Công ty lớn, niêm yết hoặc cơ quan nhà nước thuộc nhóm 1 và 2 không áp dụng.

Tham khảo: Cách xác định công ty thuộc nhóm nào khi nộp hồ sơ visa
2. Công việc nào phải chứng minh tiếng Nhật?
Chỉ áp dụng với đối nhân nghiệp vụ (対人業務), tức là công việc phải thường xuyên sử dụng tiếng Nhật để giao tiếp với khách hàng, đối tác hoặc người khác.
Ví dụ:
- Phiên dịch, thông dịch
- Sales
- Chăm sóc khách hàng
- Lễ tân khách sạn
- Marketing, PR
- Consultant
- Call Center…
Ngược lại, các công việc như lập trình, thiết kế, QA, nghiên cứu, phân tích dữ liệu… nếu chủ yếu làm việc nội bộ thì thông thường không thuộc diện áp dụng.
Tuy nhiên, Cục sẽ căn cứ vào nội dung công việc thực tế, không chỉ dựa vào tên chức danh. Nếu công việc có bao gồm gặp khách hàng, tư vấn, thương lượng hoặc hỗ trợ đối tác thì vẫn có thể được xem là “đối nhân nghiệp vụ” và phải chứng minh năng lực tiếng Nhật.
Tham khảo: Những thay đổi nào liên quan đến công việc cần phải báo với Nyukan?
3. Khi nào phải nộp chứng chỉ?

Nếu khi gia hạn visa, người lao động vẫn tiếp tục làm cùng một công việc như trước thì không cần nộp tài liệu chứng minh năng lực tiếng Nhật. Tuy nhiên, nếu chuyển việc hoặc thay đổi nội dung công việc sang công việc chủ yếu sử dụng tiếng Nhật trong giao tiếp thì phải nộp khi gia hạn. Trong quá trình xét duyệt, nếu 入管 thấy cần thì vẫn có quyền yêu cầu bổ sung.
Xin vui lòng liên hệ trước khi đăng lại hoặc trích dẫn nội dung và hình ảnh từ Tomoni.

Bình luận