Voice of Asean Sempai (Vol 24)

CON ĐƯỜNG HỌC TẬP

   Năm 1998, khi còn là sinh viên năm 1 của trường ĐH Ngoại Thương Hà Nội, mình được lựa chọn là 1 trong 4 sinh viên được trường đề cử cho học bổng du học toàn phần tại Nhật do Bộ giáo dục Nhật tài trợ. Vượt qua vòng thi lấy học bổng, đầu tháng 4 năm 2000 mình cùng 6 bạn khác lên máy bay và khởi đầu hành trình du học bằng 1 năm học tiếng Nhật tại trường ĐH Ngoại Ngữ Tokyo. Sau 1 năm học tiếng, mình vào học khoa Thương Mại của trường Đại học Hitotsubashi.

   Một năm học tiếng Nhật đúng là chả bõ bèn gì cho việc nghe giảng chuyên môn bằng tiếng Nhật ở bậc đại học. Để khắc phục, hai năm đầu tiên ở Đại học mình chủ yếu học các môn không cần giỏi tiếng Nhật như toán, thống kê, tiếng Anh,… thời gian còn lại thì tập trung học thật tốt tiếng Nhật để chuẩn bị cho những năm cuối. Cũng may, thực tế chương trình Đại học của Nhật ngành Thương mại không quá vất vả, nên đến năm thứ 3 mình đã lấy đủ môn học để có thể tốt nghiệp và chỉ cần viết nốt luận văn nữa là hoàn thành bậc Đại học. Năm đó trường mình mới mở khoá đào tạo MBA cho phép sinh viên năm 3 được thi vào và học gối đầu năm 1 master với năm 4 Đại học. Cảm thấy mình đã chậm mất mấy năm so với các bạn cùng khoá, mà lại cũng muốn học master, nên mình quyết định đăng kí thử sức với khóa học vượt cấp này.

   Kết thúc năm 1 master cũng đồng thời là nộp luận văn tốt nghiệp Đại học và chuẩn bị cho đi xin việc, thật không thể bận rộn hơn. Hồi đó quan hệ Nhật Việt còn mới bắt đầu, doanh nghiệp Nhật cũng chưa hào hứng lắm trong việc tuyển sinh viên nước ngoài nên cơ hội công việc cho du học sinh không nhiều như bây giờ, đặc biệt là cho ngành Kinh tế hay Xã hội nhân văn. Tuy tốt nghiệp Đại học danh tiếng nhưng mình bị rớt hầu hết từ vòng xét hồ sơ. Các anh chị khóa trước cùng ngành Kinh tế với mình cũng vậy, mọi người ai cũng ròng rã đi xin việc hết tháng này qua tháng khác, nhận được kết quả trượt liên tiếp mà nhiều khi không hiểu nổi tại sao mình trượt. Nhiều công ty Nhật thời đó thậm chí còn từ chối ngay khi thấy ứng viên là người nước ngoài. Còn khi đi ứng tuyển ở các doanh nghiệp Âu- Mỹ làm việc bằng tiếng Anh, thì khả năng cạnh tranh của mình lại không được tốt lắm do khả năng giao tiếp bằng tiếng Anh chưa được nhuần nhuyễn.

   Mình nhớ đã rải hồ sơ phải đến gần 30 công ty nhưng chỉ được gọi đi phỏng vấn có vài công ty. Dù rất thích chuyên ngành tài chính nhưng mảng này cạnh tranh thật khốc liệt, nên sau nhiều lần thử sức, cuối cùng mình quyết định nhấn vào thế mạnh của mình là môn Toán trong các cuộc phỏng vấn. May thay, đến tháng 4 năm đó, sau 5 tháng ròng rã xin việc, cuối cùng mình cũng nhận được naitei từ công ty bảo hiểm NN của Hà Lan, đúng chuyên ngành Tài chính đã học.

   Được nhận vào làm ở một công ty nước ngoài, mình quyết tâm khắc phục hạn chế giao tiếp tiếng Anh của mình bằng cách đầu tư toàn bộ tiền tiết kiệm lúc đó đăng kí một khoá học giao tiếp tiếng Anh tuần 3 buổi nói chuyện trực tiếp với người bản xứ. Nhờ vậy, đến lúc gần tốt nghiệp, khả năng giao tiếp tiếng Anh của mình đã tốt hơn hẳn. Khoảng mấy tháng trước khi vào làm, mình nhận được điện thoại của công ty nói muốn phỏng vấn mình lần nữa. Hóa ra trong công ty có một phòng chuyên làm việc bằng tiếng Anh, họ dự tính sẽ phân mình vào bộ phận đó nên muốn phỏng vấn để kiểm tra lại khả năng giao tiếp. Khoá học tiếng Anh vậy là đã giúp cho mình rất nhiều, mình vượt qua vòng phỏng vấn và được nhận vào làm việc ở phòng quản trị rủi ro tài chính, trong một môi trường làm việc quốc tế và bằng tiếng Anh.

   Vào công ty rồi hành trình học tập của mình lại bắt đầu. Do đặc thù của ngành bảo hiểm, nên ngay năm đầu tiên vào công ty, ,mình đã phải ôn và thi tổng cộng khoảng 13 kì thi để lấy một loạt chứng chỉ của ngành bảo hiểm và chứng chỉ quốc tế Chuyên gia quản trị rủi ro Tài chính (Financial Risk Management, FRM). Hàng ngày, sau khi kết thúc công việc ở công ty, về nhà mình thường ngồi học thêm 3-4 tiếng/ngày để chuẩn bị cho các kì thi này. Quãng thời gian đó tuy thật sự rất vất vả, nhưng vì vẫn luôn tâm niệm 3 năm đầu đi làm, khi còn sức trẻ và chưa vướng bận con cái gì- chính là khoảng thời gian quan trọng nhất đặt nền móng cho sự nghiệp sau này, nên mình cố gắng làm viêc và học tập với 120-130% sức lực bản thân để tích lũy kinh nghiệm, và chuẩn bị sẵn sàng các bằng cấp cho tương lai.

   Năm 2008, mình được công ty cử sang làm việc 6 tháng tại tổng công ty ở Amsterdam, đồng thời bắt đầu học thêm chứng chỉ Chuyên gia phân tích tài chính của Mỹ (Chattered Financial Analyst, CFA). Năm 2009, sau 3 năm làm việc tại công ty, cảm thấy bản thân đã khá vững các nghiệp vụ quan trọng, các chứng chỉ cần thiết của ngành cũng gần như đã hoàn thành xong, mình mới quyết định sinh con đầu lòng.

CÂN BẰNG GIỮA CÔNG VIỆC VÀ CHĂM CON

   Bé sinh tháng 10 thì đến tháng 4 năm sau đó được vào nhà trẻ. Vậy là mình gửi bé đi học, đón ông bà nội sang phụ giúp thời gian đầu phòng khi bé ốm đau do chưa quen với môi trường mới, rồi quay trở lại làm việc tại công ty với chế độ làm full từ 9h-17h mỗi ngày. Nhờ đã có kinh nghiệm làm việc 3 năm tại công ty trước khi sinh, các nghiệp vụ đều đã rất thông thạo, nên sau khi trở lại làm việc, mình không mất quá nhiều thời gian để có thể bắt kịp trở lại với nhịp điệu công việc cũ và nhanh chóng biết cách sắp xếp để có thể đạt hiệu quả công việc tốt nhất trong quỹ thời gian giới hạn của một working-mother.

   Tuy có thuận lợi là mội trường công ty khá thoải mái, không phải ở lại over-time nhiều, nhưng việc vừa đi làm full-time, vừa đưa đón con đi học hàng ngày khi không có sự trợ giúp của ông bà đúng là không hề đơn giản. Để khắc phục, vợ chồng mình thường cùng bàn bạc để chia sẻ việc nhà với nhau, sáng bố sắp xếp thời gian đưa con đi học để mẹ bớt cập rập. Mình cũng chịu khó tra cứu và tận dụng các dịch vụ hỗ trợ working-mother của thành phố để tự giảm bớt phần nào áp lực cho bản thân. Ví dụ như bé nhà mình đợt đầu phải gửi ở một nhà trẻ khá xa, mỗi lần mẹ đi làm về lại mất thêm tận gần 40p để đón. Sau một thời gian thấy khá phí thời gian, nên mình quyết định đăng ký dịch vụ hỗ trợ đưa đón trẻ Family Support của shi 4 buổi/ tuần (chi phí khoảng 800y/giờ), chỉ để dành thứ 6 tự đi đón để trao đổi trực tiếp với các cô các vấn đề của bé ở nhà trẻ. Thời gian không phải đi đón tiết kiệm được, mình về thẳng nhà nghỉ ngơi và lo cơm nước trước.

   Sau khi quay trở lại công việc được một thời gian, tranh thủ lúc ông bà còn ở Nhật, mình lại dành thêm 3-4 tiếng vào các ngày cuối tuần để tập trung hoàn thành nốt kì thi cuối cùng để lấy được bằng CFA. Từ đây mình có thể tự tin với CV của mình để tiếp tục sự nghiệp trong ngành tài chính. Mình tiếp tục làm ở phòng quản trị rủi ro đến hết năm 2012, và được thăng chức lên manager. Cuối năm 2012, mình quyết định thử sức một lĩnh vực mới là đầu tư và xin chuyển sang phòng đầu tư. Lĩnh vực mới mẻ đòi hỏi sự hiểu biết về thị trường, về các sản phẩm đầu tư. Nhờ có background rất vững về tài chính, mình nắm bắt lĩnh vực mới mà không gặp quá nhiều khó khăn. Sau 2 năm mình đã hoàn toàn tự tin ở phòng mới và quyết định sinh bé thứ 2. Hiện giờ mình là senior portfolio manager, chuyên đảm trách về chiến lược đầu tư và quản trị rủi ro cho công ty.

THÀNH LẬP TRƯỜNG VIỆT NGỮ

   Như phần lớn mẹ Việt nuôi con ở Nhật, mình cũng có rất nhiều trăn trở về việc dạy con tiếng và văn hóa Việt Nam. Con mình đi nhà trẻ gần 10 tiếng mỗi ngày, nên phần lớn thời gian trong ngày, cháu nói tiếng Nhật, tiếp xúc và ở cùng với thầy cô và bạn bè người Nhật. Dù buổi tối về nhà mình vẫn lưu ý dành thời gian để nói và dạy con tiếng Việt, các dịp hè cũng gắng thu xếp cho con về nghỉ hè 1-2 tháng cùng ông bà để bé hiểu thêm về Việt Nam, nhưng mình vẫn cảm thấy như vậy là chưa đủ.

   Mình từng đọc nhiều sách về giáo dục trẻ em khi bé sống trong một nền văn hóa khác và thấy rằng, một đứa trẻ có thể gặp phải khá nhiều khủng hoảng tinh thần khi phải sống trong 2 nền văn hóa khác nhau- khi ở trường là Nhật, khi về nhà lại là Việt Nam. Nếu bố mẹ không nhận biết sớm và khéo léo xử lý, con sẽ dễ bị rơi vào cảm giác cô đơn, stress vì cảm thấy mình khác biệt so với bạn bè. Nếu thường xuyên được giao lưu với các bé người Việt khác có cùng hoàn cảnh như mình, tâm sự, chia sẻ được với bạn đồng trang lứa để giải tỏa bớt những nỗi niềm này, thì các con sẽ dần cảm thấy “không chỉ mình mình khác biệt” và không bị cảm giác xáo trộn vì phải sống ở cả 2 nền văn hóa nữa. Trên thực tế, khi các con còn nhỏ và mới đi nhà trẻ, thường bố mẹ không để ý đến điều này, nhưng dần khi các con trưởng thành và bắt đầu hình thành “cái tôi của riêng mình” thì những khủng hoảng mới dần bộc lộ, và nếu lúc đó bố mẹ mới lo giải quyết thì đã muộn.

   Khi có dịp tâm sự với các anh chị em có cùng hoàn cảnh nuôi con ở Nhật khác, mình thấy mọi người đều có chung nỗi trăn trở này. Vậy là năm 2013, bọn mình quyết tâm thành lập trường Việt Ngữ Tokyo để cùng nhau tạo ra một môi trường học tiếng Việt- giao lưu văn hóa Việt cho các con.

   Việc vận hành buổi ban đầu rất vất vả, bọn mình mỗi người một việc, người lo liên hệ ngoại giao tìm địa điểm, người lo tuyển giáo viên, người lo kế toán, lo tổ chức các sự kiện v.v.. Mình phụ trách việc lên chương trình học và giáo trình phù hợp với các độ tuổi. Vừa làm vừa điểu chỉnh cho phù hợp với học sinh để cho các bé học vừa hứng thú vừa hiệu quả thật là gian nan nhưng bọn mình cũng rất vui thấy các con tiến bộ nhiều, nói tiếng Việt được nhiều hơn, các bố mẹ cũng có nơi để có thể trao đổi- tâm sự những thắc mắc khi sinh sống, nuôi con tại Nhật.

LỜI NHẮN

   Có một sự nghiệp cho một working mother ở Nhật thật muôn vàn khó khăn. Không có hỗ trợ phải tự mình lo toan mọi việc từ chăm sóc đến đưa đón con cái, trong khi cường độ công việc ở Nhật vừa nặng lại yêu cầu làm dài giờ. Trải qua hơn 10 năm làm việc toàn thời gian, 2 lần sinh con, mình đã bao lần cảm thấy thật quá sức. Nhưng bù lại mình cũng đã có được một sự nghiệp thăng tiến và một công việc làm yêu thích, cảm thấy được phát triển bản thân, không uổng phí bao năm học hành. Chìa khoá cho phụ nữ vừa đi làm vừa nuôi con ở Nhật mình nghĩ đầu tiên là lựa chọn công ty, công việc phù hợp phù hợp với thế mạnh của bản thân, chuẩn bị đầu tư kỹ năng và tích lũy kinh nghiệm cho mình hết mức trước khi sinh con, tận dụng sự hỗ trợ từ gia đình và mọi người xung quanh, và cuối cùng là quyết tâm không bỏ cuộc.

   Mình tin các mẹ Việt Nam ở Nhật sẽ không chỉ nuôi con giỏi mà còn làm việc giỏi, để cho cuộc sống của bản thân và gia đình ở Nhật thêm phong phú và nhiều cơ hội. Mình nghĩ nó sẽ góp phần tạo nên sự thay đổi trong nhận thức của chính người Nhật, và mình lạc quan là nước Nhật cũng đang thay đổi theo hướng ngày một tốt hơn cho phụ nữ đi làm.

Tokyo, tháng 4/2017

Xin vui lòng liên hệ trước khi đăng lại hoặc trích dẫn nội dung và hình ảnh từ Tomoni.

Bình luận

Loading...