Đọc báo cùng Tomoni kỳ 27: Nền kinh tế phụ thuộc lao động nước ngoài của Nhật Bản (phần 4)

   Chào các bạn quay trở lại với “Đọc báo cùng Tomoni” với kỳ số 27. Trong các phần trước  của Special Content 外国人”依存”ニッポン,  chúng ta đã đọc về tình trạng giảm dân số trẻ ở Tokyo và vai trò của người lao động nước ngoài trong việc bù đắp sự thiếu hụt lao động do sự sụt giảm này gây ra. Trong phần gần cuối của series, chúng ta sẽ cùng tìm hiểu về các công ty phái cử (派遣会社)và học các từ vựng liên quan nhé. 

   Nguồn sử dụng cho bài hôm nay được đăng trên trang NHK ONLINE. Link bài báo gốc

Mục lục

  1. Nội dung bài báo
  2. Giải thích nội dung – từ mới
  3. Thông tin bổ sung khác
Nội dung bài báo

外国人専門の派遣会社

  さらに東京では、外国人を人手不足に悩む現場に派遣する企業も増えている。その一つ、人材派遣会社の「マックス」から派遣されて働く外国人は実に約1400人に上る。
留学生や、技術職として働くために来日した外国人正社員の配偶者などを、法律で決められた週28時間以内で派遣している。

  派遣先は主に食品加工会社。弁当屋やコンビニなどで販売される総菜のメーカー、スーパーの食品売り場で販売される野菜や肉の加工を行う業者など。

   さらに同社では正社員約60人のうち実に40人余りが外国人だ。当初は中国人が中心だったが今ではベトナム人やネパール人もいる。外国人社員を雇用することで人脈を生かして、派遣スタッフの募集を行うほか、勤務する際のサポートにあたる。

   創業は1999年。当時は派遣先は1社だけだった。営業をかけても「外国人は使いたくない」と断られたこともあった。しかし、5年ほど前から問い合わせの件数が急速に増えたという。
「主婦のパートが高齢化して辞めているし学生のバイトも条件の良い他の業種に流れて人が集まらない事情がある。ふだん働いている姿を目にすることはなくても外国人の働き手が日常生活のあらゆるところを支えるようになっている」(担当者)

Giải thích nội dung – từ mới

Tạm dịch:   

   Tại Tokyo, số lượng các công ty chuyên phái cử người nước ngoài tới các nơi đang gặp khó khăn do thiếu lao động -ngày một tăng. MAX là một trong những công ty phái cử như vậy, và số lao động nước ngoài được MAX phái cử đi hiện đã lên tới con số xấp xỉ 1400 người. Họ cử nhân viên là các du học sinh, hoặc vợ/chồng của những nhân viên chính thức người nước ngoài sang Nhật theo diện kĩ thuật viên,…đi làm trong khung thời gian giới hạn 28 tiếng theo quy định của pháp luật.

   Nơi các nhân viên được phái cử tới chủ yếu là các công ty chế biến thực phẩm.  Họ sẽ đảm nhận các công việc như chế biến rau, thịt để bán tại các quầy bán thực phẩm của siêu thị, hay cho các xưởng chuyên chế biến đồ ăn bán cho các cửa hàng tiện lợi, quán cơm hộp.

    Ngoài ra, trong số khoảng 60 nhân viên chính thức đang làm việc tại đây, có tới hơn 40 người nước ngoài. Thời gian đầu chủ yếu là người Trung Quốc, nhưng hiện. nay thì có cả người Việt Nam và người Nepal. Thông qua việc tuyển nhân viên người nước ngoài vào làm việc, công ty có thể tận dụng các mối quan hệ của họ để tuyển nhân viên phái cử, cũng như giúp đỡ các nhân viên này trong quá trình làm việc.

    Thành lập năm 1999. Vào thời điểm ban đầu, khách hàng của họ chỉ có duy nhất một công ty. Có cả những lần bị từ chối thẳng là Chúng tôi ko thuê người nước ngoài khi gọi giới thiệu dịch vụ. Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, thì số lượng công ty liên hệ tới để hỏi về dịch vụ tăng rất nhanh.

   “Các bà nội trợ đi làm part-time ngày một lớn tuổi hơn, mà các bạn sinh viên thì thường lại chỉ ứng tuyển vào những nơi có điều kiện tốt, nên nhiều nơi không thể tuyển được. Dù bình thường có thể bạn ko nhìn thấy bóng dáng họ khi làm việc, nhưng quả thật là lao động nước ngoài đang giúp duy trì rất nhiều mặt trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta”. 

    Giờ thì chúng ta cùng xem lại một số cụm từ trong bài báo (配偶者, 派遣先,人脈,問い合わせ)để tìm hiểu thêm về ý nghĩa nhé. 

 配偶者(はいぐうしゃ)

留学生や、技術職として働くために来日した外国人正社員の配偶者などを、法律で決められた週28時間以内で派遣している。

Tạm dịch: Họ cử nhân viên là các du học sinh, hoặc vợ/chồng của những nhân viên chính thức người nước ngoài sang Nhật theo diện kĩ thuật viên,…đi làm trong khung thời gian giới hạn 28 tiếng theo quy định của pháp luật.

配偶者(はいぐうしゃ)夫婦の一方からみた他方 =  Vợ/chồng 

  配偶者(はいぐうしゃ)là cách gọi vợ/chồng đứng trên phương diện của người còn lại. Tức là nói một cách đơn giản, thì ví dụ trong phần giấy tờ của người vợ, thì mục 配偶者 là để chỉ người chồng, và ngược lại. 

–> Trong 履歴書 thường có mục ghi 配偶者(有・無)tức là có ý hỏi bạn đã có vợ/chồng chưa. 

  配偶者 là một từ chuyên ngành luật, chỉ vợ/chồng đã có quan hệ hôn nhân (đăng ký kết hôn). Tức là nếu trên thực tế, bạn đã có vợ/chồng nhưng chỉ sống với nhau mà chưa đăng ký kết hôn (事実婚) , thì ko dùng từ 配偶者, mà khi đó sẽ dùng từ 「内縁(ないえん)の夫」hay 内縁の妻

   Ngoài ra, cũng đôi lúc có người nhầm con cái là 配偶者 khi khai các giấy tờ giảm trừ thuế, do hiểu nhầm 配偶者 là chỉ người phụ thuộc. Tuy vậy, con cái thì ko phải là 配偶者, mà chỉ là 扶養家族(ふようかぞく) thôi. 

 

 派遣先(はけんさき)

  派遣先は主に食品加工会社。

Tạm dịch:  Nơi các nhân viên được phái cử tới chủ yếu là các công ty chế biến thực phẩm

派遣先(はけんさき): Công ty tiếp nhận nhân viên phái cử (nơi họ làm việc) 

Để hiểu hơn về từ này, ta nên biết thêm 1 từ nữa là 派遣元(はけんもと): Công ty phái cử nhân viên. 

Thông thường, quên hệ giữa nhân viên phái cử (はけんスタッフ・派遣社員)và công ty phái cử (派遣元) với công ty tiếp nhận phái cử (派遣先)sẽ là như sau:

  • Nhân viên phái cử kí hợp đồng lao động (雇用契約) với công ty phái cử.
  • Công ty phái cử sẽ giới thiệu công việc, cử họ đến làm việc cho công ty đối tác (派遣先).
  • Nhân viên sẽ tiếp nhận mệnh lệnh, yêu cầu công việc từ công ty tiếp nhận phái cử, nhưng sẽ được nhận lương, bảo hiểm,…từ công ty phái cử ban đầu chứ ko phải công ty tiếp nhận.

③ 人脈(じんみゃく)

外国人社員を雇用することで人脈を生かして、派遣スタッフの募集を行うほか、勤務する際のサポートにあたる。

Tạm dịch: Thông qua việc tuyển nhân viên người nước ngoài vào làm việc, công ty có thể tận dụng các mối quan hệ của họ để tuyển nhân viên phái cử, cũng như giúp đỡ các nhân viên này trong quá trình làm việc.

  • 人脈 : Sự kết nối giữa những người có chung một mối quan hệ nào đó cùng quê, cùng trường lớp,.. = mối quan hệ 

 

       Ví dụ:   豊富な人脈を誇る Tôi tự hào vì mình có nhiều mối quan hệ phong phú.

④ 問い合わせ(といあわせ)
しかし、5年ほど前から問い合わせの件数が急速に増えたという。
Tạm dịch: Nhưng khoảng 5 năm trở lại đây, thì số lượng công ty liên hệ tới để hỏi về dịch vụ tăng rất nhanh.
  • 問い合わせ:Liên hệ (thường qua điện thoại, email,..) để hỏi, xác nhận, ..về một vấn đề nào đó. ( Từ này bạn có thể bắt gặp trên các trang web, chỉ nơi tiếp nhận thông tin liên hệ, hỏi nhờ tư vấn từ khách hàng,…)Ví dụ:
  • サポートセンターへ問い合わせメールを送る時の注意点: Các điểm cần lưu ý khi gửi mail liên hệ với Support Center. 

Thông tin bổ sung khác

   Vậy là sau mấy tuần thì chúng ta cũng đã đọc gần xong hết Special Content 外国人”依存”ニッポン rồi. Nếu chia nhỏ ra để đọc ít một và học các từ mới, khái niệm xuất hiện trong đó thì thực chất các bài báo nom có vẻ dài này ko hề khó và còn giúp chúng ta có thêm rất nhiều kiến thức thực tế nữa đúng ko ạ?

   Ví dụ như qua phần này, các bạn đã có thể hiểu thêm được về 1 hình thức thuê lao động khá phổ biến ở Nhật hiện nay là “phái cử” (派遣), mà nhiều bạn vẫn quen gọi là công ty hắc-kên đấy ạ ^^. Nhiều bạn thi thoảng vẫn hỏi Tomoni là khi đi làm full-time mà làm theo hình thức nhân viên phái cử thì có gì khác so với nhân viên chính thức hay nhân viên hợp đồng. Thực ra thì phần này đã từng được Tomoni tổng hợp khá kĩ trong 1 bài viết trước đây, các bạn cùng vào đọc lại nhé.

   Bài này cũng xin được khép lại series bài về Special Content 外国人”依存”ニッポン tại đây. Từ tuần sau chúng ta sẽ lại đọc lại các tin tức trên báo hàng ngày nhé ^^. 

Xin vui lòng liên hệ trước khi đăng lại hoặc trích dẫn nội dung và hình ảnh từ Tomoni.

Bình luận

Loading...