Đọc báo cùng Tomoni kỳ 16: Cải thiện phong cách làm việc trong công ty Nhật

Chào các bạn đã quay trở lại với Đọc báo cùng Tomoni kỳ 16. Kỳ trước chúng ta đã thử đọc luôn tin tức gốc mà không có bản đơn giản kèm theo. Trong kỳ này, chúng ta tiếp tục với 1 tin tức như vậy nhé. Làm quen với các tin tức gốc mà không kèm bản đơn giản giúp chúng ta quen được với phong cách viết bài và nâng cao khả năng đọc hiểu hơn.

Nội dung tin tức ngày hôm nay là về việc các công ty tăng thêm tiền thưởng cho nhân viên để bù đắp lại khoản trợ cấp làm thêm ngoài giờ hụt đi do kết quả của việc cải thiện phong cách làm việc, giảm bớt thời gian làm thêm ngoài giờ ở các công ty Nhật Bản.

Nguồn sử dụng cho bài hôm nay được đăng trên trang NHK ONLINE. Link bài báo gốc

Nội dung bài báo

働き方改革で減った残業代をボーナスに

電子部品メーカーの「アルプス電気」は、労働時間の短縮を進めた結果、昨年度下期の社員の1人当たりの残業時間が、前の年の同じ時期に比べて、ひとつきの平均で2.4時間減ったということです。これにより残業代も減ったため、会社全体で減った残業代の3分の1を、この夏のボーナスに上乗せして社員に還元することを決めました。

また、紳士服チェーンの「はるやまホールディングス」は、月の残業時間がゼロだった社員に1万5000円を支給していて、取り組みを始めた昨年度1年間の残業時間は前の年に比べて17%減少したということです。

このほか、日立製作所は仕事を終えてから次の日の仕事を始めるまでに11時間の休息を確保する「勤務間インターバル」をことし10月から試験的に導入したり、三菱電機が来年度から有給休暇を時間単位で取得できるようにしたり、企業の間で働き方改革の取り組みが広がっています。

Giải thích nội dung – từ mới

Các công ty Nhật Bản đang tiếp tục công cuộc cải cách phong cách làm việc, rút ngắn thời gian làm thêm ngoài giờ của nhân viên. Cùng với đó, các công ty cũng bắt đầu có những hành động nỗ lực để bù đắp lại khoản thu nhập giảm đi do giảm thời gian làm thêm ngoài giờ của nhân viên.

Ví dụ, 1 công ty về điện đã quyết định thưởng thêm cho nhân viên số tiền bằng 1/3 tổng số tiền lương đã được giảm đi bởi việc giảm thời gian làm thêm ngoài giờ so với năm trước (giảm 2,4 tiếng trên 1 nhân viên 1 tháng). Hay 1 công ty về may mặc thì thưởng thêm 1.5 vạn yên cho những nhân viên nào không phải làm thêm ngoài giờ chút nào trong tháng.

  Giờ thì chúng ta cùng xem lại một vài cụm từ và cấu trúc trong bài báo để tìm hiểu thêm về ý nghĩa nhé. 

① 還元する、残業代

働き方改革を進めようと、企業の間では、減らした残業代を社員に還元することで労働時間の短縮を促すなど、さまざまな取り組みが始まっています。

還元する かんげんする: hoàn lại, trở lại trạng thái/tính chất/hình dáng ban đầu. 

Ở đây là chỉ việc các công ty đang trong nỗ lực cải cách phong cách làm việc, giảm thời gian làm thêm ngoài giờ cho nhân viên, cùng với đó thì thu nhập của nhân viên cũng giảm đi so với trước đây. Do đó công ty nỗ lực có hành động để có thể hoàn lại khoản thu nhập bị hụt đi so với trước đây do việc giảm giờ làm đó.

残業代 ざんぎょうだい: tiền trả cho thời gian làm thêm ngoài giờ. Trong tiếng Nhật, có 1 vài từ thường ghép phía sau để chỉ chi phí như 代・料・費・賃. Vậy phân biệt cách dùng những từ này như thế nào? Về cơ bản thì cách dùng những từ chỉ chi phí được phân biệt như sau:

  • ○○代: thường sử dụng trong trường hợp dùng tiền để trao đổi (代わり)lấy thứ có giá trị về kinh tế. Ví dụ: 電話代、バス代、ガソリン代、部屋代、電気代、ガス代、お茶代、バイト代…
  • ○○料: sử dụng trong trường hợp thanh toán khi nhận được lợi ích về kinh tế (dịch vụ), thường được quy định về mức giá. Ví dụ: レンタル料、入場料、紹介料、授業料、送料、サービス料、延滞料…
  • ○○費: chỉ khoản tiền, chi phí cần thiết để làm 1 việc gì đó (thường mang tính bắt buộc). Ví dụ: 医療費、教育費、交通費、学費、会費、生活費、食費、交際費…
  • ○○賃: tiền, chi phí cho việc đi thuê mượn hoặc lao động. Ví dụ: 家賃、電車賃、手間賃てまちん、運賃、船賃ふなちん借賃かりちん

② 下期<=>上期

電子部品メーカーの「アルプス電気」は、労働時間の短縮を進めた結果、昨年度下期の社員の1人当たりの残業時間が、前の年の同じ時期に比べて、ひとつきの平均で2.4時間減ったということです。

Tạm dịch:

Kết quả của nỗ lực giảm giờ làm của công ty sản xuất thiết bị điện アルプス, 6 tháng cuối năm ngoái, tổng thời gian làm thêm trung bình 1 tháng trên 1 nhân viên đã giảm đi 2,4 tiếng so với cùng kỳ năm trước.

上期 かみき: 6 tháng đầu của năm tài chính. Khác với ở Việt Nam, 1 năm tài chính ở Nhật bắt đầu từ tháng 4 đến hết tháng 3 năm sau. 6 tháng đầu năm được tính từ tháng 4 đến hết tháng 9.

下期 しもき:6 tháng cuối năm, từ tháng 10 đến hết tháng 3 năm sau.

 

Thông tin bổ sung khác

Nhật Bản từ trước đến nay vẫn luôn được biết đến là đất nước với những con người làm việc rất nghiêm túc, thời gian làm việc ngoài giờ cũng rất nhiều. Việc làm thêm ngoài giờ gần như 1 điều đương nhiên ở các công ty Nhật Bản, và nó cũng ăn sâu vào tiềm thức, cách làm việc của nhân viên công ty. Trong bối cảnh thiếu nhân lực trầm trọng, công ty cần nhân viên làm thêm giờ để hoàn thành công việc, nhân viên làm thêm để tăng thu nhập (hoặc bị “bắt buộc”). Do đó, để thay đổi phong cách làm việc của cả một hệ thống làm việc cũng không phải là việc đơn giản.

Nỗ lực cải cách phong cách của các công ty Nhật Bản cũng bắt đầu có những kết quả tích cực như giảm bớt được thời gian làm thêm ngoài giờ. Tuy nhiên, kéo theo đó là thu nhập của nhân viên cũng giảm theo. Việc thưởng thêm để bù đắp lại thâm hụt về thu nhập đó là 1 trong những hành động của công ty trong nỗ lực cải thiện phong cách làm việc ở các công ty Nhật Bản vốn nhiều áp lực.

Xin vui lòng liên hệ trước khi đăng lại hoặc trích dẫn nội dung và hình ảnh từ Tomoni.

Bình luận

Loading...